Làm việc và tiền lương

Mức lương tối thiểu

Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Lao động, mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ dựa trên các điều kiện về kinh tế và xã hội của địa phương cũng như mức lương bình quân trên thị trường lao động.

Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012, Chính phủ công bố mức lương tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia. Hội đồng tiền lương quốc gia là cơ quan ba bên gồm đại diện của Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động. Mức lương tối thiểu được xác định theo giờ, theo ngày và theo tháng cho các ngành và các vùng khác nhau.

Mức lương tối thiểu vùng được áp dụng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân, cơ quan, tổ chức sử dụng lao động. Tiền lương có thể được xác định bởi thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao (thông qua hợp đồng lao động) cũng như thông qua các Thỏa ước lao động tập thể, tuy nhiên mức lương này không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Chính phủ công bố. Nghị định mới cũng quy định mức lương tối thiểu của người lao động đã qua đào tạo phải cao hơn mức lương tối thiểu vùng nói trên ít nhất là 7%. Mức lương đối với điều kiện làm việc nặng, độc hại, nguy hiểm phải cao hơn ít nhất là 5% (7% với điều kiện đặc biệt độc hại) so với mức lương tối thiểu vùng.

Tiền lương tháng trả cho người lao động thực hiện các công việc đơn giản nhất (người lao động không có tay nghề) trong điều kiện lao động bình thường không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Các doanh nghiệp tùy theo địa bàn hoạt động căn cứ mức lương tối thiểu vùng cần xây dựng thang lương, bảng lương và tính toán các lợi ích khác để trả lương cho người lao động. Người sử dụng lao động phải tham khảo ý kiến của Công đoàn có liên quan và gửi thang bảng lương tới cơ quan quản lý lao động ở cấp huyện. Thang bảng lương được sử dụng như là cơ sở cho việc tuyển dụng lao động, đàm phán lương và trả lương. Người sử dụng lao động phải công bố công khai thang bảng lương tại nơi làm việc trước khi thực hiện. 

Người sử dụng lao động và người lao động đang trong quá trình thử việc có thể thỏa thuận về mức lương thử việc, nhưng ít nhất phải bằng 85% mức tiền lương bình thường của công việc đó. Nếu một người học việc (trong thời gian học nghề, đào tạo nghề) trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất ra sản phẩm để bán, tiền lương phải được thỏa thuận giữa các bên (người học việc và doanh nghiệp). Lao động thời vụ được hưởng mức lương và các khoản chi bổ sung khác tương tự như những người lao động khác.

Việc tuân thủ lương tối thiểu được quy định bởi thanh tra lao động hoặc cơ quan tương tự (Chương XVI, điều 185 của luật lao động [thanh tra nhà nước có chức năng kiểm tra các chính sách lao động]) và công đoàn (Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam và công đoàn khác (điều 181 mục 3) của luật lao động). Trường hợp không tuân thủ sẽ bị phạt (Nghị định số 47/2010 ngày 6/5/2010, điều 10, khoản 4 và điều 192 của luật lao động), xử lý hình sự (điều 192 của luật lao động, 1994 (chỉnh sửa 2002), truy lĩnh (Điều 192 của luật lao động, 1994 (chỉnh sửa 2002). 

Nguồn: Điều 28, 61, 91-93 của Bộ luật Lao động (Luật số 10/2012 /QH13); Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương (số 49/2013/NĐ-CP)

Kỳ hạn trả lương

Người sử dụng lao động có quyền lựa chọn hình thức trả lương theo thời gian (theo giờ, ngày hoặc tháng), theo sản phẩm hoặc khoán. Hình thức trả lương đã chọn phải được duy trì trong một thời gian nhất định; trường hợp thay đổi hình thức trả lương, thì người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động biết trước ít nhất 10 ngày.

Tiền lương có thể được trả bằng tiền mặt hoặc trả qua tài khoản cá nhân của người lao động được mở tại ngân hàng. Người lao động phải được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn (như đã thỏa thuận trong Hợp đồng lao động). Trong trường hợp tiền lương không được thanh toán đúng hạn, việc trả lương không được chậm hơn 01 tháng (kể từ ngày đến hạn trả lương) trong các trường hợp đặc biệt. Nếu việc trả lương chậm hơn 15 ngày, người sử dụng lao động phải trả cho người lao thêm một khoản tiền tương đương với các khoản nợ lương nhân với trần lãi suất tiền gửi một tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán.

Theo quy định của Bộ luật Lao động, người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được người sử dụng lao động trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc tiền lương được gộp lại để trả do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả lương một lần. Người lao động hưởng lương tháng được trả lương tháng một lần hoặc nửa tháng một lần. Người lao động hưởng lương theo sản phẩm (trên cơ sở hoàn thành công việc), theo khoán được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã hoàn thành trong tháng.

Người sử dụng lao động chỉ được khấu trừ tiền lương của người lao động để bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng các công cụ và thiết bị của người sử dụng lao đến mức xác định theo quy định của Bộ luật Lao động. Người lao động phải được thông báo về những lý do khấu trừ tiền lương của mình, tuy nhiên mức khấu trừ không được vượt quá 30% tiền lương hàng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thuế thu nhập.

Nguồn: Điều 94-96 & 101 của Bộ luật Lao động (Luật số 10/2012/QH13)

Các quy định về làm việc và tiền lương

  • Luật Lao động, 2012 / Labour Code, 2012
Cite this page © WageIndicator 2017 - Luong.com.vn - Làm việc và tiền lương